Vườn Quốc gia Bạch Mã

Từ thành phố Huế xuôi theo quốc lộ 1A vào Đà Nẵng khoảng 40km, trước khi đến hầm Hải Vân, bạn rẽ vào con đường nhỏ lên Vườn Quốc gia Bạch Mã (VQGBM) nằm ngay cạnh chợ Cầu Hai, đi tiếp khoảng 3km bạn sẽ đến cửa chính vào vườn.

Bạch Mã là bức tranh hùng vĩ và thơ mộng được tạo thành bởi các dãy núi cao trùng điệp, là trung tâm dải rừng xanh tự nhiên còn lại duy nhất của Việt Nam và cũng là phần cuối cùng của dãy Trường Sơn Bắc kéo dài từ biên giới Việt - Lào ra tận biển Đông, trong đó đỉnh Bạch Mã cao 1.450m so với mực nước biển với phong cảnh ngoạn mục, nhiều đèo cao, thác nước. Khí hậu ở đây mát mẻ quanh năm, mùa hè từ 18 - 23oC và mùa mưa kéo dài từ tháng 9 đến tháng 1 năm sau được xem là nơi có lượng mưa lớn nhất Việt Nam, 8000mm/năm. Điều kiện nhiệt độ này chính là lý do từ những năm đầu thế kỷ XX, người Pháp đã xây dựng nhiều biệt thự, khách sạn và đường lên núi để biến nơi đây thành khu nghỉ mát lý tưởng. Năm 1925, một dự án thành lập Vườn Quốc gia Bạch Mã - Hải Vân để bảo tồn loài gà lôi lam mào trắng đã được trình lên Bộ Thuộc địa Pháp. Cho đến đầu những năm 1930, Pháp đã xây dựng 139 khu biệt thự, chợ, bưu điện và một con đường chạy ra tận quốc lộ 1A. Tuy nhiên, trong những năm chiến tranh sau này, một phần lớn rừng bị tàn phá nặng nề và các công trình biệt thự hầu hết chỉ còn lại dấu tích đổ nát. Năm 1988, khu rừng cấm Bạch Mã - Hải Vân được hoàn thành. Ngày 15/7/1991, Vườn QGBM chính thức được thành lập với diện tích 22.030ha.

Rừng Bạch Mã được cấu tạo bởi 2 loại rừng chính là rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới ở đai thấp dưới 900m và rừng kín thường xanh mưa mùa á nhiệt đới ở độ cao trên 900m. Khu rừng là ngôi nhà chung trú ngụ của hàng ngàn loài động thực vật khác nhau, nhiều loài đặc chủng, quý hiếm. Các nhà khoa học đã thống kê được 83 loài thú từ những giống động vật đang có nguy cơ tuyệt chủng đến những giống mới của thế giới và Việt Nam như hổ, vượn, voọc ngũ sắc, voọc vá chân nâu, sao la, gấu ngựa, báo gấm, khỉ mặt đỏ, mang lớn... Bạch Mã là nơi trú ngụ của 333 loài chim, tức là hơn 1/3 loài chim hiện có của nước ta. Nhiều loài chim đẹp và lạ như họa mi, khướu bạc má, chích chòe lửa, gà so, gà lôi trắng, gà lôi lam mào trắng và có đến 7 loài chim trĩ khác nhau, trong đó có loài quý hiếm như trĩ sao. Bạch Mã còn 256 loài bướm cùng nhiều loài bò sát, ếch nhái, cá và côn trùng trong đó 68 loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam cần được bảo vệ nghiêm ngặt. Nhiều loài côn trùng kỳ lạ và độc đáo như bọ que có thân dài xương xẩu, màu sắc cơ thể giống như cành cây; kỳ nhông xanh cùng hàng đàn bướm màu sắc sặc sỡ rập rờn trên những khóm hoa hay đậu thành hàng trên vách đá rêu xanh. Các nhà khoa học đã lên danh sách 1406 loài thực vật ở nơi đây gồm những giống cây quý hiếm như trắc, trầm hương... và 338 loài cây có thể sử dụng làm thuốc nam. Một số cây dược liệu có giá trị lớn về kinh tế cần được bảo vệ và nhân giống như cây vàng đắng dùng chữa bệnh sốt rét và bệnh vàng da; cây hoàng tinh hoa trắng sử dụng làm thuốc bổ và chữa bệnh đau lưng. Một số loài lần đầu được phát hiện ở đây được đặt tên của vườn như Côm Bạch Mã, chìa vôi Bạch Mã. Vào khoảng thời gian đầu và cuối mùa mưa, rừng Bạch Mã còn sặc sỡ sắc màu của các loại hoa đỗ quyên, râu hùm, lan vani, trà hoa vàng cùng các giống nấm, địa y, dương xỉ thân gỗ có màu sắc và hình thù kỳ dị, phong phú...

Thời gian đến thăm vườn đẹp nhất trong năm từ tháng 3 đến tháng 9. Sau khi dừng chân nghỉ tạm ở trung tâm giới thiệu và đón tiếp du khách, bạn tiếp tục đi theo đường nhựa dài 14km ngoằn ngoèo đèo dốc dẫn lên đỉnh chính của Bạch Mã, nơi có khu nhà nghỉ chính, xây dựng theo phong cách lâu đài cổ kính được đặt tên theo các sản vật của rừng. Từ đây, bạn có thể lựa chọn nhiều tuyến tham quan trong khu vực. Trước hết là tuyến đường mòn Hải Vọng Đài dài khoảng 1km từ bãi đỗ xe lên đỉnh núi Bạch Mã. Từ đây bạn có thể quan sát cảnh đẹp tuyệt vời của toàn bộ rừng Bạch Mã, đầm phá Cầu Hai, cảng Chân Mây, bãi biển Cảnh Dương, Lăng Cô... Đi xuống từ đỉnh núi khoảng 2km theo đường dốc thoai thoải xuyên qua khu rừng á nhiệt đới, bạn tới thăm nhà sưu tập hàng trăm loài phong lan núi và các loài hoa khác. Từ nơi dừng chân, bạn cũng có thể đi theo đường mòn Ngũ Hồ qua cánh rừng có nhiều chim, bướm tới một loạt thác nước và 5 hồ trong xanh, phẳng lặng, còn nếu không đủ thời gian đi hết tuyến đường này, bạn có thể tách ra đi theo đường mòn đỗ quyên dốc thoai thoải tới đỉnh thác Đỗ Quyên với độ cao trên 300m, chiều rộng hơn 20m. Muốn thăm chim thú quý, bạn đi theo đường mòn Trĩ Sao dài khoảng hơn 2km, ngoài việc thưởng thức cảnh rừng và các hồ nước trong veo, bạn sẽ thấy khu vực này là nơi ở của các loài chim trĩ và heo, hươu, mang. Từ khu nhà nghỉ đi xuống 3km theo đường ô tô, bạn có thể rẽ vào đường mòn Chò Đen, một đoạn đường chỉ non nửa cây số nhưng rất dốc và khó đi, bạn sẽ bất ngờ khi tận mắt nhìn thấy nhiều cây cổ thụ cao ngất trên 30m và đều có đường kính trên 1m tụ họp với nhau san sát... Những du khách yêu nông nghiệp có thể lựa chọn đến các nhà vườn ở thôn Khe Su để tìm hiểu về đời sống canh tác của cư dân địa phương, rồi kết thúc chuyến du ngoạn sẽ là điểm dừng chân tại các suối thác đẹp như Thủy Điện, Đá Dựng để cắm trại và bơi lội thỏa thích.

Sau các cuộc đi rừng, lên thác, ngắm cảnh, du khách có thể quay về 4 nhà nghỉ tại khu vực đỉnh gồm Đỗ Quyên, Sao La, Kim Giao và Bạch Mã hoặc xuống các nhà nghỉ khác ở khu đón tiếp của các công ty du lịch Huế như Phong Lan, Cẩm Tú, Hoàng Yến... Các phòng nghỉ ở đây đều đầy đủ tiện nghi, một số phòng còn được thiết kế dành cho gia đình và tập thể với công trình phụ bên ngoài. Đặc biệt, những du khách yêu thích thiên nhiên có thể thuê trại dành cho 2 người hay 6 người để dựng trại nghỉ qua đêm ở bãi Thông Nàng, được tận hưởng vị sương lạnh của núi và nghe văng vẳng tiếng tâm sự của muông thú qua gió rừng thủ thỉ năm canh...



Nguyễn Văn Dương
(Theo Hà Nội mới)

Đọc thêm ...

AddThis Social Bookmark Button

Lăng Thoại Ngọc Hầu

Lăng Thoại Ngọc Hầu, còn được gọi là Sơn Lăng, thuộc xã Vĩnh Tế, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang; là một danh thắng, một công trình kiến trúc cổ tiêu biểu dưới thời phong kiến, và là một di tích lịch sử được xếp hạng cấp quốc gia Việt Nam.

Lăng do chính tay Thoại Ngọc Hầu coi sóc việc xây dựng. Vào năm nào thì chưa rõ, nhưng sau khi ông đến Châu Đốc nhận nhiệm vụ án thủ Châu Đốc đồn, kiêm quản quân vụ trấn Hà Tiên vào năm 1821, chỉ mấy tháng sau người vợ thứ là Trương thị Miệt qua đời, đã được ông đem an táng tại đây. Vào năm 1826, bà vợ chính là Châu Thị Tế mất, cũng được ông đem an táng kề cận và dành vị trí chính giữa cho mình. Như vậy, khu vực được ông chọn lựa và quyết định cho khởi công xây dựng Sơn lăng chỉ ở khoảng thời gian trên.

Lăng Thoại Ngọc Hầu nằm kề bên quốc lộ 91, là một khối kiến trúc to lớn nhưng hài hòa.

Muốn lên lăng, phải qua chín bậc đá ong dài trên trăm mét, xây hình thang rồi mới đến sân.

Sân lăng bằng phẳng, rộng thênh thang, có hai tiểu đình do người đời sau xây dựng. Một, dùng để bản sao tấm bia Thoại Sơn, có hai tượng nai, hai tượng hổ và một khẩu súng đại bác cổ cỡ nhỏ; hai, dùng để tượng ngựa và người lính hầu...

Tiếp đến là vòng thành và 2 cổng vào lăng hình bán nguyệt được đúc dầy, nên trông lăng thật bề thế, vững vàng.

Qua khỏi cổng là phần mộ nằm giữa vuông lăng. Mộ Thoại Ngọc Hầu nằm giữa, bên trái là mộ bà chính thất Châu Thị Tế, bên phải là mộ thứ thất Trương Thị Miệt được xây lùi lại để tỏ sự kính nhường. Phía đầu mộ là bình phong có đắp chi chít những chữ Hán. Phía chân mộ là bi kí và năm tấm bia đá bị gắn chặt vào tường thành.

Nơi tường bia ấy, chính giữa là bia Vĩnh Tế Sơn được dựng lên từ năm 1828, tức bốn năm sau khi đào xong kênh Vĩnh Tế. Bia cao hơn đầu người, bằng loại đá sa thạch, khắc 730 chữ. Do để ngoài trời, không chăm sóc nên mặt đá đã bị rạn nứt, bị bào mòn nên chữ đã không còn đọc được. Bốn tấm bia còn lại cũng đã bị thời gian làm cho nhẵn nhụi, nên không rõ tung tích...

Nơi nội lăng và hai bên phải trái vuông lăng còn có hai khu đất rộng, cũng có vòng thành ngăn chắn xung quanh dày cả mét. Ở đây có trên 50 ngôi mộ xây hình vôi phục, có mộ đắp hình bầu dài, có mộ vuông vắn, vật liệu cũng bằng vôi, ô dước như mộ ông bà Bảo hộ Thoại....Những ngôi mộ này đều vô danh, đa số là những hài cốt của những người đã bỏ mình trong lúc đào kênh vĩnh Tế được qui tập về.

Theo bậc thang lên cao, ra khỏi vuông lăng là đền thờ nằm bên những bóng cây cao râm mát. Không rõ đền được xây dựng vào năm nào, nhưng chắc chắn phải sau khi ông Thoại mất (năm 1829).

Trong đền bày trí đẹp, có tượng bán thân Thoại Ngọc Hầu với đủ đồ lễ bộ, tạo không gian ấm cúng và trang nghiêm...

Bởi sau khi ông Thoại mất, Võ Du ở Tào Hình Bộ đứng ra tố cáo ông đã nhũng nhiễu của dân nhiều khoản. Sau khi triều đình nghị án, ông bị truy giáng chức tước xuống hàm ngũ phẩm, các con ông đều bị lột hết ấm hàm, tất cả điền sản để lại đều bị tịch thu, phát mãi...

Đến năm Khải Định thứ 9, tức 85 năm sau, ông Thoại mới được giải oan. Cho nên ở đền thờ chỉ có duy nhất một sắc phong của vua Khải Định, truy phong ông là Đoan Tức Dực Bảo Trung Hưng Tôn Thần vào năm 1924.

Lăng Thoại Ngọc Hầu thuộc khu danh thắng núi Sam đã được Bộ Văn hóa - Thông tin do Nguyễn Khoa Điềm ký, công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia vào ngày 1 tháng 12 năm 1997.

Đọc thêm ...

AddThis Social Bookmark Button

Thắng cảnh Khai Long

Từ chót Mũi Cà Mau đi dọc ven bờ biển về hướng Đông khoảng 8 km là đến khu du lịch Bãi Khai Long (thuộc ấp Khai Long- xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển). Bãi Khai Long nằm giữa hai con rạch Nhưng Miên và Khai Long. Bãi cát vàng mịn trãi rộng từ vài ba chục mét đến hơn 100 m, chạy dài gần 4 cây số. Bãi có diện tích gần 250 ha và hàng năm vẫn tiếp tục tiến ra biển. Khi thuỷ triều rút xuống, bãi cứ lộ dần rộng ra và hình thành lên những dãi cát dài uốn lượn hình sóng rất kỳ lạ và đẹp mắt. Ánh nắng mặt trời tạo đường nét sáng - tối tương phản hấp dẫn du khách.

Bờ biển nơi đây còn đậm nét hoang sơ, kỳ vĩ với môi trường trong lành bởi xung quanh được bao bọc bởi hệ sinh thái biển - rừng ngập mặn. Ven bờ cát dài, hoa muống biển tim tím hoang vươn dài ra biển. Khoảng 150 năm trước, những cư dân đầu tiên đã đến đây và phát hiện ra các giồng đất cao và trồng nhiều cây trái, rau màu. Cam, quýt, dưa hấu, chuối, dừa ở đây đều rất ngon, ngọt và năng suất cao. Nhưng hồi ấy đường giao thông thuỷ uốn lượn, quá dài và khó đi, chở ra chợ Cà Mau, Bạc Liêu, Cần Thơ phải mất nhiều ngày trời, còn khách thương hồ thường xuyên đi lạc, do vậy mà sản phẩm rau quả không bán được nên nghề trồng rẫy dần mai một.

Tháng 12 năm 1940, các chiến sĩ khởi nghĩa do anh hùng Phan Ngọc Hiển chỉ huy đã giành được thắng lợi, giải phóng đảo Hòn Khoai. Do điều kiện đặc biệt lúc bấy giờ, mọi mật lệnh, thông tin của cấp trên đều không đến được nhưng quân khởi nghĩa vẫn chủ động và dũng cảm tấn công chiếm được Quận Kiểm lâm Tân Ân, sau đó rút về ẩn náu ở bãi Khai Long. Thực dân Pháp cho quân càn quét, truy bắt. Sau nhiều ngày cầm cự, các chiến sĩ khởi nghĩa Hòn Khoai đã rơi vào tay giặc khi mà họ đã kiệt sức vì thiếu lương thực và nước uống. Đến đây ta vẫn còn cảm giác bùi ngùi xúc động về tấm gương dũng cảm, kiên cường của 10 liệt sĩ Khởi nghĩa Hòn Khoai.

Đứng ở bãi Khai Long du khách thấy được hiện tượng thiên nhiên kỳ thú, đó là lúc mặt trời tròn như cái mâm từ từ nhô lên ở Biển Đông vào buổi bình minh và chìm xuống biển Tây lúc hoàng hôn. Du khách cảm nhận được làn gió mát lạnh từ ngoài khơi thổi vào và phóng tầm mắt ra xa sẽ nhìn thấy cụm đảo Hòn Khoai, cách bờ Khai Long hơn 10 hải lý, xanh thẫm hiện lên khá rõ trên mặt biển khơi gió lộng.

Đi dọc Bãi Khai Long, dài theo ven biển về cả hai phía là bờ biển Đông dài hàng chục km bãi bồi có nhiều tôm cá đặc trưng và các loài hải sản quý khá nổi tiếng của Cà Mau như: nghêu, vọp, sò huyết, ốc len.

Tiếp giáp Bãi Khai Long là Vườn quốc gia Mũi Cà Mau, rừng đước Ngọc Hiển bạt ngàn với những địa danh nổi tiếng trong thời kỳ chống ngoại xâm: Rạch Gốc, Rạch Tàu, Tân Ân, Viên An và Vàm Lũng - Điểm mở đầu và cũng là điểm cuối của tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển.

Từ năm 2005 đến nay, Công ty TNHH Lý Thanh Long đầu tư xây dựng khu du lịch trên diện tích 76 ha bao gồm nhà nghỉ, nhà hàng ăn uống, khu vui chơi giải trí và khu trang trại nuôi trồng thuỷ sản kết hợp du lịch sinh thái. Đến đây du khách sẽ được thưởng thức các món ăn hải sản tươi ngon- đặc sản vùng bãi bồi Cà Mau theo ý muốn. Mỗi năm có gần 100 ngàn khách du lịch trong ngoài tỉnh tới đây, nhất là các dịp lễ, tết.


PHẠM ANH HOAN

Đọc thêm ...

AddThis Social Bookmark Button

Chùa Keo

Chùa Keo (Thần Quang tự 神光寺) là một ngôi chùa ở xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, Việt Nam, được xây dựng từ năm 1061 dưới thời Lý Thánh Tông ở hương Giao Thuỷ ven sông Hồng. Ban đầu, chùa có tên là Nghiêm Quang tự, đến năm 1167 mới đổi thành Thần Quang tự. Vì Giao Thủy có tên Nôm là Keo, nên ngôi chùa này cũng được gọi là chùa Keo.

Năm 1611, nước sông Hồng lên to, làm ngập làng nơi có chùa. Một bộ phận dân cư dời đi nơi khác, xây dựng ngôi chùa Keo mới, thường được gọi là chùa Keo Dưới hay chùa Keo Hành Thiện (nay ở xã Xuân Hồng, huyện Xuân Thuỷ, Nam Định). Một bộ phận dân cư dời sang tả ngạn sông Hồng, lập làng Dũng Nhuệ trên đất Thái Bình và cũng dựng lên một ngôi chùa, gọi là chùa Keo Trên, tức ngôi chùa đang nói tới ở đây. Công việc xây dựng ngôi chùa này được bắt đầu từ năm 1630 và hoàn thành vào năm 1632 theo phong cách kiến trúc thời Lê, nhờ sự vận động của bà Lại Thị Ngọc, vợ Tuần Thọ Hầu Hoàng Nhân Dũng và Đông Cung Vương phi Trịnh Thị Ngọc Thọ. Chùa được trùng tu nhiều lần, vào các năm 1689, 1707, 1941... Lần trùng tu năm 1941, có sự giúp đỡ của Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp.

Văn bia và địa bạ chùa Keo còn ghi lại diện tích toàn khu kiến trúc chùa rộng khoảng 58.000 m², gồm nhiều ngôi nhà làm thành những cụm kiến trúc khác nhau. Hiện nay toàn bộ kiến trúc chùa còn lại 17 công trình gồm 128 gian xây dựng theo kiểu "Nội công ngoại quốc".

Từ cột cờ bằng gỗ chò thẳng tắp cao 25 m ở ngoài cùng, đi qua một sân lát đá, khách sẽ đến tam quan ngoại, hồ sen, tam quan nội với bộ cánh cửa, cao 2 m, rộng 2,6 m, chạm một ổ rồng với rồng mẹ và rồng con, chầu mặt nguyệt. Nếu đôi cánh cửa ở chùa Phổ Minh tiêu biểu cho kiến trúc đời nhà Trần thì đôi cánh cửa chùa Keo tiêu biểu cho kiến trúc đời nhà Lê.

Qua tam quan, đi tiếp vào chùa, gặp ở hai bên 24 gian hành lang là khách hành hương sắm lễ vào Chùa lễ Phật và lễ Thánh.

Đi đến phần chùa thờ Phật, gồm ba ngôi nhà nối vào nhau. Ngôi nhà ở ngoài, gọi là chùa Hộ, ngôi nhà ở giữa gọi là ống muống và ngôi nhà trong là Phật điện. Đặc biệt ở đây có tượng Thích Ca nhập Niết bàn, tượng Bồ Tát Quan Âm Chuẩn Đề đặt giữa tượng Văn Thù Bồ Tát và Phổ Hiền Bồ Tát. Toàn bộ khu thờ Phật của Chùa Keo có gần 100 pho tượng.

Chùa ngoài thờ Phật, còn thờ Không lộ - Lý Quốc Sư. Toàn bộ công trình đều làm bằng gỗ lim và là nơi được các nghệ nhân điêu khắc thời nhà Hậu Lê chạm khắc rất tinh xảo.

Sau khu thờ Phật là khu thờ thánh. Tại hội chùa Keo, sau khi đã có những nghi lễ như mọi hội chùa khác, thì diễn ra trò chơi kéo nứa lấy lửa, nấu xôi, nấu chè và nấu cơm chay để mang cúng Thánh. Phía ngoài có một giếng nước. Thành giếng xếp bằng 36 cối đá thủng đã từng dùng giã gạo nuôi thợ xây chùa từ xưa.

Đáng kể và tiêu biểu nhất ở đây là kiến trúc tòa gác chuông chùa Keo. Gác chuông chùa Keo là một kiến trúc đẹp, cao 11,04 m, có 3 tầng mái,kết cấu bằng những con sơn chồng lên nhau. Bộ khung gác chuông làm bằng gỗ liên kết với nhau bằng mộng, nâng bổng 12 mái ngói với 12 đao loan uốn cong dáng vẻ thanh thoát, nhẹ nhàng. Gác chuông được dựng trên một nền gạch xây vuông vắn. Ở tầng một có treo một khánh đá cao 1,20 m. Tầng hai có quả chuông đồng lớn đúc năm 1686 cao 1,30 m, đường kính 1 m. Hai quả chuông nhỏ treo ở tầng ba và tầng thượng cao 0,62 m, đường kính 0,69 m đều được đúc năm 1796.

Hai hành lang chạy dài từ chùa Hộ nối với nhà tổ và nhà trai sát gác chuông, bao quanh toàn bộ chùa.

Đến thăm chùa, ta có thể nhìn thấy những đồ thờ quý giá tương truyền là đồ dùng của Thiền sư Không Lộ như bộ tràng hạt bằng ngà, một bình vôi to và ba vỏ ốc lóng lánh như dát vàng mà tương truyền rằng chính do Không Lộ nhặt được thuở còn làm nghề đánh cá và giữ làm chén uống nước trong những năm tháng tu hành.

Trải qua gần 400 năm tu bổ, tôn tạo, chùa Keo vẫn giữ nguyên bản sắc kiến trúc độc đáo của mình. Gác chuông với bộ mái kết cấu gần 100 đàn đầu voi là viên ngọc quý trong gia tài kiến trúc Việt Nam. Bộ cánh cửa chạm rồng là bộ cửa độc đáo của cả nước. Chùa còn bảo lưu được hàng trăm tượng Pháp và đồ tế thời Lê. Có thể nói Chùa Keo là một bảo tàng nghệ thuật đầu thế kỷ 17, với nhiều kiệt tác đặc sắc.

Hằng năm vào ngày mùng 4 tháng giêng Âm lịch, nhân dân làng Keo lại mở hội xuân ngay ở ngôi chùa mang tên làng.

Hơn chín tháng sau, vào các ngày 13, 14, 15 tháng 9 Âm lịch, chùa Keo lại mở hội mùa thu. Đây là hội chính, kỷ niệm 100 ngày Thiền sư Không Lộ (1016-1094), người sáng lập ngôi chùa, qua đời (ngày 3 tháng 6 Âm lịch).

Trong ngày hội, người ta tổ chức lễ rước kiệu, hương án, long đình, thuyền rồng và tiểu đỉnh. Trong chùa thì có cuộc thi diễn xướng về đề tài lục cúng: hương, đăng, hoa, trà, quả, thực, thật sinh động.

Có câu ca dao về hội chùa Keo:

Dù cho cha đánh mẹ treo,
Em không bỏ hội chùa Keo hôm rằm.

Đọc thêm ...

AddThis Social Bookmark Button

Non nước Cô Tô

Núi Cô Tô, còn gọi là núi Tô, có tên chữ là Phụng Hoàng Sơn, bởi nhìn xa giống như con chim phượng hoàng khổng lồ đang sải cánh giữa đồng bằng mênh mông. Sách nói rằng xa xưa, núi Tô là nơi trú ngụ của loài chim phượng hoàng.
Cô Tô nằm trong hệ thống dải Thất Sơn thuộc địa phận huyện Tri Tôn (An Giang), cao 614m, người Khmer gọi là “Pnom-Kto”. Núi có cấu tạo giống như một mâm trứng đá. Những khối đá to, nhỏ xếp chồng lên nhau, được gọi là “lò ảng”.

Trăng trên núi Cô TôCũng có tích xưa kể lại rằng các nàng tiên nữ thường hay xuống vùng núi Thất Sơn trong những đêm trăng sáng để dạo chơi và vui đùa. Một hôm, các nàng chơi trò ném đá và sáng hôm sau, nơi ấy xuất hiện một trái núi nhỏ nằm lẻ loi, đá chồng chất lên nhau thành muôn vạn dáng hình kỳ vĩ.

Trăng lên đỉnh núi Cô Tô

Một ngày nắng đẹp, chúng tôi từ phố núi Tri Tôn theo tỉnh lộ 943 đến với núi Tô. Xe chạy tốc độ vừa phải, đường sá tốt, hai bên là những cánh đồng lúa chín vàng dọc dài theo núi. Những ngôi nhà thấp thoáng, ẩn hiện trong bóng tre xanh, dưới tàn thốt nốt, xa hơn chút nữa là dãy núi sừng sững. Những con lạch nhỏ chảy từ trên núi xuống, len lỏi qua muôn ngàn khối đá thiên hình vạn trạng, nước suối trong xanh biêng biếc… Cảnh vật thật thanh bình, yên ả với những đàn bò gặm cỏ và những chú bé mục đồng ngất nghểu, khua lục lạc leng keng trên con đường sơn cước.
Chúng tôi ghé Tức Dụp, cách thị trấn Tri Tôn khoảng 18km. Đây là một ngọn đồi đá nổi tiếng, được báo chí hồi trước giải phóng gọi là đồi Hai triệu đô, dựa vào số bom đạn Mỹ đã dội xuống đây, được tính bằng USD. Do cấu tạo địa chất đặc biệt, bên trong đồi đá Tức Dụp là một hệ thống hang động ngầm như tổ ong vĩ đại, rất kiên cố và vững chắc.
Đi theo hành lang được xây dựng sau này, dọc theo “sơn đạo thép” năm xưa, xuyên qua những lối quanh co lúc rộng, lúc hẹp đầy đá núi lạ mắt như có bàn tay ai sắp đặt từ lúc mới tạo sơn, chúng tôi thâm nhập vào hang và được tận mắt thấy những di tích lịch sử, hội trường, trạm xá, nơi ăn chốn ở của những người giữ núi. Có cảm giác như bóng dáng của một thời hào hùng vẫn còn đâu đây. Hội trường C.6 trong lòng núi có thể chứa 150 khách.
Tức Dụp ngày nay đã được đầu tư thành một khu du lịch sinh thái và truyền thống lịch sử với khá nhiều hạng mục, công trình phục vụ khách tham quan du lịch. Theo thông tin của ngành du lịch, hàng năm có hàng trăm ngàn lượt khách trong, ngoài nước đã đến nơi đây.
Rời Tức Dụp ở sườn phía Tây núi Cô Tô, chúng tôi vòng qua xã Núi Tô mịt mù cát bụi. Lý do là khúc đuôi của Phụng Hoàng Sơn hiện nay là một công trường khai thác đá có lẽ lớn nhất đồng bằng sông Cửu Long.
Qua hết con đường đầy cát bụi của những công trường khai thác đá. Chúng tôi đi ngược đường những chiếc xe tải kềnh càng chở đá xuôi về hướng kênh đào, nơi có bến bãi tập kết, sơ chế, phân loại đá. Có khá nhiều thợ thủ công đơn giản, từ các nơi đến kiếm sống, làm thuê, gia công những vật dụng bằng đá núi Cô Tô như cối đá, trụ đá, bia đá, tán đá… Bãi đá này dài mấy cây số nắng chang chang, không một bóng cây, hàng trăm con người vẫn “bán mặt cho đá, bán lưng cho trời”.
May mà màu xanh của cây cỏ lại xuất hiện ở sườn phía Đông Cô Tô. Qua những xóm làng yên ắng, qua những cánh đồng có những đàn bò gặm cỏ, chúng tôi gặp các cô gái Khmer gánh, chở rau cải, bầu bí, cười tươi tắn khi thấy khách lạ đưa máy ảnh lên chụp.
Một con đường nhỏ như đường làng, rợp bóng cây, dẫn vào thắng cảnh Suối Vàng Soài So. Hai bên là những hàng quán của dân địa phương. Vé vào cửa giá 5.000 đồng cho người đi xe gắn máy và 2.000 đồng cho khách bộ hành.
Thật bất ngờ trước vẻ đẹp hoang sơ của Soài So. Một hồ nước xanh biếc, phẳng lặng rộng chừng 5 hecta. Hồ có dung tích 400 ngàn mét khối, được sử dụng để tưới tiêu cho hàng trăm hecta ruộng rẫy và cung cấp nước sinh hoạt cho nhân dân vùng lân cận. Một con suối nhỏ chảy róc rách từ trên núi xuống, nước trắng xóa như bạc, len giữa một hòn đá rất to như trái bầu hồ lô của các vị tiên. Cây rừng xanh tốt soi bóng xuống mặt hồ lung linh, huyền ảo. Những hàng thốt nốt đứng trầm tư ven hồ. Có một số mộ táng cổ hình tháp nằm rải rác trong khu vực. Tiếng chim hót líu lo trên những nhánh sung rừng cành lá um tùm, rậm rạp.
Nếu ở lại đây ăn cơm, bạn sẽ cảm nhận một điều khác biệt: gạo ở vùng này thường được sản xuất bằng giống lúa rẫy địa phương, ít sử dụng phân bón hóa học và thuốc trừ sâu, do đó hương vị gạo ngon, thơm, dẻo và lạ miệng. Đường thốt nốt sản xuất theo quy trình thủ công truyền thống cũng là một sản phẩm được nhiều người ưa chuộng, có giá từ 8.000 đến 10.000 đồng một ký.
Dù sao, Cô Tô với non xanh, nước biếc luôn để lại trong lòng du khách nhiều lưu luyến nhờ những cảnh tượng lạ lùng khó quên.

(Doanh nhân Sài Gòn cuối tuần)

Đọc thêm ...

AddThis Social Bookmark Button

Chuyển đến trang: